Tìm trong thư viện

Địa Danh: Ba-by-lôn

Kinh đô đế quốc đã phá Giê-ru-sa-lem và bắt dân Giu-đa lưu đày; về sau thành hình ảnh của thế lực chống nghịch Đức Chúa Trời.

6 bài giảng về · xem thêm 22 bài có nhắc tới

Trong Kinh Thánh

270 câu · 17 sách · Bản Truyền Thống 1925

  • 2 Các Vua 17:24
  • 2 Các Vua 17:30
  • 2 Các Vua 20:12
  • 2 Các Vua 20:14
  • 2 Các Vua 20:17
  • 2 Các Vua 20:18
  • 2 Các Vua 24:1
  • 2 Các Vua 24:7
  • 2 Các Vua 24:10
  • 2 Các Vua 24:11

…và 260 câu nữa

Mục từ điển — Ba-by-lôn

BA-BY-LÔN (בָּבֶל, Bavel; Βαβυλών, Babylōn). Kinh đô đế quốc đã phá Giê-ru-sa-lem và bắt dân Giu-đa lưu đày; về sau thành hình ảnh của thế lực chống nghịch Đức Chúa Trời.

Từ nguyên học

Người Ba-by-lôn hiểu tên thành mình là bab-ilu, “cửa của thần”. Nhưng Sáng Thế Ký 11:9 giải nghĩa theo tiếng Hê-bơ-rơ, bằng một lối chơi chữ có ý mỉa: gọi là Ba-bên vì tại đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn (בָּלַל, balal) tiếng nói của cả đất. Cùng một cái tên, hai cách đọc — một của kẻ xây tháp, một của bản văn.

Ba-by-lôn trong Cựu Ước

Thành xuất hiện sớm, trong nước của Nim-rốt và ở tháp Ba-bên (Sáng 10–11). Về sau, dưới Nê-bu-cát-nết-sa, đế quốc Ba-by-lôn phá Giê-ru-sa-lem năm 586 TCN, đốt Đền Thờ và bắt dân đi lưu đày bảy mươi năm. Đa-ni-ên và ba bạn phục vụ trong triều đình ấy. Các tiên tri vừa gọi Ba-by-lôn là cái roi trong tay Đức Chúa Trời, vừa nói trước sự sụp đổ của chính nó (Ê-sai 13; Giê-rê-mi 50–51). Thi Thiên 137 là tiếng khóc của người lưu đày bên bờ sông Ba-by-lôn.

Ba-by-lôn trong Tân Ước

Tên ấy chuyển thành một biểu tượng. Khải Huyền gọi “Ba-by-lôn lớn” là mẹ của những sự gớm ghiếc và loan báo ngày nó đổ (Khải 17–18). Phi-e-rơ kết thư thứ nhất bằng lời chào từ “hội thánh ở Ba-by-lôn”, mà nhiều người hiểu là cách gọi kín đáo thành Rô-ma.

Xem dạng thẻ có ảnh

Lên đầu trang