Vài Nguyên Tắc Cơ Bản
Chúng ta bây giờ đã sẵn sàng để giải thích phép báp-têm và ân điển được liên kết như thế nào. Trước tiên, tôi sẽ trình bày vài nguyên tắc cơ bản để ghi nhớ khi học về phép báp-têm. (A) Mỗi tín lý, bao gồm phép báp-têm, được dựa trên Kinh Thánh trước nhất, không phải trên sự trải nghiệm. (B) Chúng ta không thể đưa ra kết luận của chúng ta về ý nghĩa của phép báp-têm từ các nguồn không thuộc Kinh Thánh, như là từ tiếng La Tin sacramentum (thường có nghĩa là “lời thề, đính ước, giao ước”). (C) Phép báp-têm của tín đồ Đấng Christ bắt đầu vào ngày lễ Ngũ Tuần. Vậy chúng ta không phải cố gắng dựa vào sự hiểu biết của chúng ta về nó trên các việc làm trước lễ Ngũ Tuần, như là sự cắt bì theo Cựu Ước hay phép báp-têm của Giăng. (D) Chỉ có MỘT PHÉP BÁP-TÊM, Ê-phê-sô 4:5 nói như vậy. Phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh và phép báp-têm bằng nước cả hai đều áp dụng cho các tín đồ Đấng Christ, nhưng chúng là hai sự kiện riêng biệt. Chúng là các khía cạnh thuộc linh và thể xác của một sự kiện báp-têm duy nhất.
Cuối cùng, (E) Sự cứu rỗi như vậy là có điều kiện, tức là, chúng ta nhận được sự cứu rỗi bởi việc đáp ứng các điều kiện cụ thể. Tuy nhiên, có các LOẠI điều kiện khác nhau. Điều kiện chính là đức tin, là CÁCH THỨC duy nhất (công cụ, phương tiện) mà bởi đó sự cứu chữa bội phần của sự cứu rỗi được nhận: “ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu” (Ê-phê-sô 2:8). Mặc khác, phép báp-têm không phải chỉ là một điều kiện khác cho sự cứu rỗi, nhưng là LOẠI điều kiện khác. Đặc biệt, nó là THỜI ĐIỂM hay cơ hội khi Đức Chúa Trời nói Ngài sẽ ban ân điển cho tội nhân; nó không phải là phương tiện để nhận được sự cứu rỗi theo nghĩa giống với đức tin. Cả đức tin và phép báp-têm là các điều kiện của sự cứu rỗi, nhưng đức tin là phương thức và phép báp-têm là thời điểm. Xin hãy thận trọng: không xem điều kiện ngang bằng với phương thức, và đừng nhầm lẫn phương thức với thời điểm.
Giờ thì chúng ta sẽ nghiên cứu ngắn gọn năm đoạn trích Tân Ước cơ bản mà giải thích ý nghĩa của phép báp-têm. Cho một cuộc thảo luận đầy đủ hơn về những câu này và bảy đoạn trích khác như vậy, xem sách của tôi, Baptism: A Biblical Study (College Press, xuất bản lần thứ 2, 2006).
Ma-thi-ơ 28:19-20
Bốn việc làm được chỉ rõ trong Đại Mạng Lệnh này. Một mạng lệnh chính là “dạy dỗ muôn dân,” một việc làm mà được đi trước bởi động tính từ bất định (quá khứ), “đi”. Phương thức để dạy dỗ muôn dân được giải thích trong hai động tính từ hiện tại: “báp-têm cho họ,” và “dạy họ.” Hoạt động này bắt đầu khoảng 10 ngày sau việc này, vào ngày lễ Ngũ Tuần (Công vụ 2:38-42).
Đó là rất quan trọng để Đức Chúa Jêsus tách riêng phép báp-têm khỏi sự dạy dỗ. Phép báp-têm được biệt riêng bởi vì nó là một trong những điều kiện để trở thành một tín đồ Đấng Christ, cùng với các điều kiện của phép báp-têm, sự ăn năn, và sự xưng nhận. Mình phép báp-têm được nhắc đến ở đây, bởi vì nó là điều duy nhất trong bốn điều này mà những người thực hiện Đại Mạng Lệnh (các sứ đồ, các nhà truyền giáo) có thể làm; những điều khác được làm bởi những người cải đạo. Việc thực hiện những điều này cấu thành nên những gì mà Kinh Thánh gọi là sự vâng phục tin lành (Rô-ma 10:16; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:8; 1 Phi-e-rơ 4:17). Sau đó tiếp nối phần thứ hai của việc dạy dỗ muôn dân, tức là, dạy họ vâng phục hết tất cả mọi điều đã được truyền. Điều này chỉ đến những gì mà Phao-lô gọi là “các việc làm của luật pháp” (Rô-ma 3:20, 28; Ga-la-ti 2:16, hay “các việc lành” của sự vâng phục bộ luật của một người, hay sống đời sống tín đồ Đấng Christ. Nhiều người nghĩ phép báp-têm thuộc về phần thứ hai này, nhưng Đức Chúa Jêsus đã rõ ràng đặt nó tách biệt khỏi phần này.
Trong chỉ dẫn của Ngài về phép báp-têm, Đức Chúa Jêsus đặc biệt nói rằng các tội nhân phải chịu phép báp-têm “nhân danh của [eis to onoma] Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh.” Điều này nói với chúng ta nhiều về ý nghĩa của phép báp-têm. Cụm từ “nhân danh của” theo văn hóa Hy Lạp là một thuật ngữ thương mại chuyên môn được sử dụng để chỉ đến sự tiếp nhận của một số tiền hay một tài sản vào trong tài khoản mang tên của người sở hữu nó. Khi Đức Chúa Jêsus sử dụng nó ở đây, Ngài muốn nói rằng việc làm của phép báp-têm này là thời điểm khi mà một người bước vào trong một sự liên kết sở hữu với các nhân vật của Đức Chúa Trời Ba Thân Vị. Ở đây chúng ta trở thành tài sản của Đức Chúa Trời, hay nô lệ (xem Rô-ma 6:15-13). Từ điểm này trở đi, chúng ta tìm cách để hoàn thành món nợ của chúng ta về sự vâng phục bộ đến bộ luật của chúng ta.
Công Vụ 2:38
Đoạn trích tiếp theo này được đặt trong bối cảnh về sự bắt đầu của Hội Thánh, của thời đại Hội Thánh, của thời kỳ Tân Ước. Phi-e-rơ vừa rao giảng bài giảng tin lành đầu tiên (Công vụ 2:14-36), và các thính giả người Giu-đa của ông được thuyết phục tuyệt đối và đang hỏi làm thế nào để được giải thoát khỏi tội lỗi của họ (2:37), điều chỉ ra rằng họ đã bắt đầu tin vào tin lành. Phi-e-rơ chỉ dẫn họ làm hai điều: ăn năn và chịu phép báp-têm. Các thính giả này sẽ biết được sự ăn năn là gì; đây là một phần chính của lời truyền của các Đấng tiên tri Cựu Ước. Họ cũng sẽ quen thuộc với một loại của phép báp-têm, được ban cho qua sự hầu việc của Giăng Báp Tít. Tuy nhiên phép báp-têm này mà Phi-e-rơ truyền, là điều gì đó mới. Điều gì đó mà các thính giả không nghi ngờ gì là đã được báp-têm bởi Giăng, nhưng Phi-e-rơ đã nói rằng , “ai nấy” bây giờ phải nhận phép báp-têm của tín đồ Đấng Christ. Phép báp-têm của Giăng là không đủ (xem Công vụ 19:1-7).
Phi-e-rơ đã nói điều gì sẽ là kết quả của phép báp-têm mới này? Hai điều, tương xứng với sự cứu chữa bội phần của ân điển. Một là sự tha thứ của tội lỗi, điều mà tương tự với sự xưng công bình, hay nghe Đức Chúa Trời Quan Xét phán rằng, “Không có hình phạt dành cho ngươi!” Thứ hai là sự ban cho của Đức Thánh Linh, là cách mới để Đức Thánh Linh hiện diện trong các tín đồ, cách mà Giăng và Đức Chúa Jêsus đã gọi là chịu “phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh” (Công vụ 1:5). “Phép báp-têm trong Đức Thánh Linh” KHÔNG chỉ đến sự ban cho của nói tiếng lạ (Công vụ 2:1ff); nó giống với những gì mà Kinh Thánh gọi là sự ngự vào trong lòng của Đức Thánh Linh (Rô-ma 8:9-11), là nguồn gốc của sự kiện được gọi là sự tái sanh hay của quá trình tiếp diễn được gọi là sự thánh hóa.
Trong đoạn trích này, sự ăn năn và phép báp-têm không thể được tách rời; chúng là các điều kiện ngang hàng cho việc nhận được sự cứu chữa bội phần của ân điển. Cũng vậy, sự tha thứ và sự ngự vào trong của Đức Thánh Linh không thể bị tách rời. Chúng là bản chất gấp đôi của ân điển cứu rỗi được nhận trong phép báp-têm.
Rô-ma 6:1-6
Bối cảnh của đoạn trích này cũng rất quan trọng. Trong Rô-ma 1-5 Phao-lô chỉ giải thích điều TỐT NHẤT từng xảy ra cho chúng ta như các tín đồ Đấng Christ: chúng ta được xưng công bình bởi đức tin trong các công việc cứu chuộc của Đức Chúa Jêsus, hơn là bởi việc chúng ta có thể đáp lại các mạng lệnh của bộ luật của chúng ta tốt như thế nào (Rô-ma 3:28). Đây là phần một của sự cứu chữa bội phần. Giờ thì, trong Rô-ma 6:1ff, sứ đồ đang giải thích điều THỨ HAI tốt nhất mà xảy ra cho chúng ta, ấy là, phần thứ hai của sự cứu chữa bội phần: chúng ta trải qua một sự thay đổi thuộc linh ở bên trong quá cơ bản đến nỗi nó có thể được miêu tả không gì hơn một sự chết và một sự sống lại một đời mới. Tại sao sự thay đổi sau cùng này lại quá tuyệt vời? Bởi vì nó khiến chúng ta có thể sống một đời sống thánh, tức là, để vâng phục được tất cả những gì mà Đức Chúa Jêsus đã truyền lệnh cho chúng ta (Ma-thi-ơ 28:20)!
Vậy thì làm thế nào mà Phao-lô mang phép báp-têm vào trong cuộc thảo luận này? Ông nhẹ nhàng trừng phạt những người Rô-ma vì sự không biết của họ về các sự kiện quan trọng này: “Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp-têm trong Đức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp-têm trong sự chết Ngài sao?” ông hỏi (câu 3). Trong lời giải thích của mình, ông tuyên bố rằng một người chịu phép báp-têm vào trong Đấng Christ, tức là, vào trong một sự hợp nhất với Đấng Christ trong vai trò của Ngài như là Đấng Cứu Chuộc. Chính xác là, một người chịu phép báp-têm vào trong sự chết của Ngài, tức là, chúng ta được chôn với Ngài qua phép báp-têm vào trong sự chết; và chúng ta cũng giống vậy được hợp nhất với Ngài trong sự sống lại của Ngài. Sự trải nghiệm của sự cứu rỗi này rõ ràng là một kết quả của việc chịu phép báp-têm.
Chúng ta không dễ nhường nhịn cho sự cám dỗ để làm lu mờ tầm quan trọng cứu rỗi của phép báp-têm đã được trình bày quá rõ ràng ở đây. Lưu ý: Phao-lô không nói rằng chúng ta đã ăn năn vào trong Đấng Christ. Ông không nói rằng chúng ta được chôn với Ngài bởi đức tin vào trong sự chết. Sự ám chỉ là đến phép báp-têm. Và để chúng ta không sỉ nhục Đức Chúa Trời bởi việc phớt lờ đi Ê-phê-sô 4:5 và nói (như một người trong các giáo sư theo thuyết Calvin của tôi tại lớp Kinh Thánh Westminster đã nói), “Không có một giọt nước nào trong Rô-ma 6!” Điều đó cũng dành cho đoạn trích tiếp theo.
Cô-lô-se 2:11-13
Đoạn trích này tương tự với Rô-ma 6 trong điều mà nó nói về sự thay đổi thuộc linh trong lòng của chúng ta khi so sánh với một sự chết và một sự sống lại, một sự thay đổi có khả thi bởi sự đi đến của chúng ta vào trong sự hợp nhất với Đức Chúa Jêsus Christ. Ở đây Phao-lô nói rằng trong giây phút mà chúng ta “được chôn với Ngài” và “cũng sống lại cùng với Ngài.” “Ngài khiến anh em sống lại với Ngài, vì đã tha thứ hết mọi tội chúng ta”! Nhưng chính xác thì khi nào “sự tái sanh và đổi mới” tuyệt vời này (xem Tít 3:5) xảy ra? Ở đây Phao-lô nói nó rõ ràng hơn ở bất cứ nơi nào khác trong Tân Ước. ông nói nó xảy ra “TRONG PHÉP BÁP-TÊM,” cũng thêm vào nhóm đại từ quan hệ, “MÀ TRONG ĐÓ.”
Đó là quan trọng rằng trong cùng câu này (câu 12) Phao-lô sử dụng cả nhóm từ “trong phép báp-têm” và nhóm từ “bởi đức tin.” Chúng ta được chôn và được sống lại với Ngài trong phép báp-têm, nhưng cùng lúc đó là bởi đức tin. Không có nghịch lý gì, không có sự mâu thuẫn ở đây. Phép báp-têm như THỜI ĐIỂM của sự cứu rỗi là thích hợp hoàn hảo với đức tin như PHƯƠNG THỨC để nhận được sự cứu rỗi đó.
1 Phi-e-rơ 3:20-21
Đó là thích hợp để kết thúc sự nghiên cứu ngắn gọn này với câu nói của Phi-e-rơ rằng, chỉ giống như nước lụt đã cứu gia đình của Nô-ê bởi sự trôi dạt trên tàu, thì cũng vậy “phép báp-têm giờ đây cứu anh em.” Chúng ta hãy rõ ràng: nước lụt là sự loại suy tượng trưng; phép báp-têm là THỰC TẾ. Phi-e-rơ không nói rằng phép báp-têm đang “tượng trưng” cho bất cứ điều gì đó. Hơn thế, phép báp-têm ĐANG LÀM điều gì đó: nó CỨU.
Phi-e-rơ làm cho nó rõ ràng rằng sự cứu rỗi này đang không được hoàn thành qua các nỗ lực vật chất của nước, nhưng qua sự nài xin hay cầu nguyện đến Đức Chúa Trời của tội nhân cho một lương tâm tốt. Đây là một dấu hiệu của đức tin và sự ăn năn của tội nhân, trong việc đáp lại những gì mà Đức Chúa Trời ban cho sự tha thứ và làm sạch sự dơ bẩn của tội nhân. Nhưng Phi-e-rơ thậm chí còn làm cho nó rõ ràng hơn rằng sự cứu rỗi được ban cho trong phép báp-têm không được dựa trên bất cứ điều gì mà tội nhân làm. Nó xảy ra chỉ qua quyền phép của công việc cứu chuộc – sự sống lại, trong trường hợp này – là của Đức Chúa Jêsus Christ.
Những đoạn trích này và những đoạn khác bày tỏ rằng Kinh Thánh dạy dỗ rõ ràng là chúng ta được cứu bởi ân điển, nhưng được cứu trong phép báp-têm.
