Cuộc Đời Nô-ê

Sự Thật về Tàu của Nô-ê -Tài liệu Kinh Thánh về cuộc đời của Nô-ê.

 

Tác giả: Branyon May

Dịch giả: Quý Hoàng

Đây là sản phẩm của World Video Bible School.

Nguyện Đức Chúa Trời được vinh hiển!

 

Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất. Vả đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực, Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước, Đức Chúa Trời phán rằng: "Phải có sự sáng," thì có sự sáng. Đức Chúa Trời thấy sáng là tốt lành, bèn phân sáng ra cùng tối. Đức Chúa Trời lại phán rằng: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có chỗ khô cạn bày ra, thì có như vậy. Đức Chúa Trời đặt chỗ khô cạn là đất, còn nơi nước tụ lại là biển. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành... Đức Chúa Trời làm nên hai vị sáng lớn, vì lớn hơn để cai trị ban ngày, vì nhỏ hơn để cai trị ban đêm, Ngài cũng làm các ngôi sao... Đức Chúa Trời phán: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta..."

Ông đến với thế gian cũng như các đứa trẻ khác, sinh ra trong một gia đình đầy lo âu và mong đợi; sinh ra trong một thế gian đầy rẫy những đấu tranh. Ông được nuôi nấng bởi mẹ của mình, được chăm sóc bởi cha của mình, và được xem như một nguồn của niềm vui và sự hy vọng. Cha của ông, La-méc, đặt tên ông là Nô-ê, nói rằng ông sẽ "an ủi lòng ta về công việc và về sự nhọc nhằn mà đất bắt tay ta phải làm."

Trong bất cứ câu chuyện về cuộc đời hay gia phả, các sự kiện, các việc làm, và những khó khăn chính là tiêu điểm, và từ các tài liệu này chúng ta biết về phẩm chất của một người và lòng bền chí của họ. Nhưng thậm chí từ các chi tiết hằng ngày hay các sự nhắc đến tình cờ, thì chúng ta có thể biết nhiều về thái độ, nhân cách và tầm ảnh hưởng của một người. Đối với Nô-ê, đó là sự gian ác của thế gian trong thế hệ của ông sẽ định các thái độ và hành động của cuộc đời ông.

Trái đất bị hủy hoại trước mặt Đức Chúa Trời và đầy dẫy sự hung bạo. Bởi môi trường này nên một lời kêu gọi hành động đã đến với Nô-ê vào đỉnh điểm của đời ông, và nó đến trực tiếp từ Đức Chúa Trời, "Ngươi hãy đóng một chiếc tàu." Đây là một chỉ thị ngắn, có vẻ đơn giản, nhưng nó tiêu tốn hết thời gian và năng lượng của Nô-ê, khi ông đã thành tâm kính sợ, đóng một chiếc tàu để cứu nhà mình. Nhưng đây không phải là nơi câu chuyện thật sự bắt đầu, hay thậm chí sự ra đời của Nô-ê cũng không phải là một nơi thích hợp để bắt đầu.

Đầu tiên, chúng ta phải xem xét làm thế nào thế gian sa ngã vào các tình cảnh tệ hại như thế. Lối đi của tội lỗi vào trong thế gian bởi A-đam và Ê-va đều được ăn năn và ghi nhớ bởi cặp đôi đầu tiên. Vườn Ê-đen là một nơi của lòng tham tồn tại, nó đã có rất nhiều cây mà mỗi cây thì đẹp mắt lại ăn ngon. Nhưng có tội nghịch cùng Đức Chúa Trời, nên cả chồng và vợ đều bị đuổi khỏi vườn. Họ sẽ tiếp tục cuộc đời của họ đối mặt với những khó nhọc và vất vả mà trước đây họ chưa từng biết đến.

Một trong nhiều sự nhắc nhở về tội lỗi của họ là nỗi đau mà Ê-va sẽ trải qua khi sinh nở, như Đức Chúa Trời đã phán, "Ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con." Qua sự đau đớn, Ê-va đã an toàn hạ sanh hai người con trai đến thế gian này, Ca-in và A-bên. Giờ thì sự vất vả của cha mẹ sẽ bắt đầu và mang cùng với nó các thách thức mới. Ca-in, con đầu lòng, lớn lên là một nông dân, trồng trọt các vụ mùa trên đất. A-bên, em trai của ông, lớn lên thành một người chăn chiên và một người chăn bầy. Trong khi chúng ta không được kể hai người con được bao nhiêu tuổi, với một độ tuổi chịu trách nhiệm nào đó, thì mỗi người con đã mang đến của lễ của mình để thờ phượng Đức Chúa Trời.= Của lễ con đầu lòng trong bầy của A-bên được Đức Chúa Trời hài lòng và nhận lấy. Của lễ của A-bên, mặc dù, không vâng phục ý muốn của Đức Chúa Trời và Ngài đã không nhậm nó. Nhưng phản ứng của Ca-in lại trở nên rất giận dữ và ganh ghét. Đức Chúa Trời hiện ra với Ca-in khuyên ông chọn con đường đúng. Ngài bảo ông rõ ràng rằng, "Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao?" Nhưng khi ngẩng cái đầu xấu xí lên, thì tội lỗi đã đưa những cám dỗ xấu xa của nó cho loài người, và chúng ta thấy người nông dân trẻ, Ca-in, đã chọn giữ thái độ ganh ghét và cơn giận dữ đối với em trai của ông. Sau đó việc làm cố ý dựa trên các khao khát tội lỗi đó, Ca-in đã đứng lên và giết A-bên, phạm tội giết người đầu tiên trên đất. Vì hành động độc ác của mình, Ca-in đã bị trục xuất, bị Chúa đuổi khỏi gia đình của ông để sống như một kẻ trốn tránh và lưu lạc. A-đam và Ê-va giờ đây bị bỏ lại không còn người con nào, Một đứa thì bị giết và đứa còn lại thì sống với các hậu quả của những chọn lựa của mình. Vậy A-đam và Ê-va đã làm những gì cần thiết để tiếp tục cuộc đời của họ, có đức tin vào sự chăm sóc và kế hoạch đầy yêu thương của Đức Chúa Trời.

Đến lúc, A-đam và Ê-va có những người con trai và gái khác, bao gồm con trai thứ ba của họ, Sét, người mà Đức Chúa Trời đã lập làm hậu duệ khác thế cho A-bên. Qua cuộc đời và dòng giống của Sét, gia đình lớn lên nhanh chóng của loài người bắt đầu kêu cầu danh Chúa. Tấm gương tin kính của Sét có thể được nhìn thấy kéo dài cho đến thế hệ thứ 7 từ A-đam nơi chúng ta tìm thấy tổ phụ Hê-nốc để danh tiếng trong lịch sử như người bước đi trung tín với Đức Chúa Trời. Đời sống công bình của ông gây ấn tượng cho Đấng Tạo Dựng đến nỗi Ngài đã cất ông khỏi đất mà không phải trải qua sự chết.

Trong những năm mà mỗi thế hệ này đang thiết lập gia đình của họ, trở thành cha mẹ với nhiều con trai và gái, trở thành những người chú và cô ông bà và thậm chí là ông bà cố, thì có một nhành chính khác của dòng giống của A-đam và Ê-va mà chứa đựng một sự ô nhiễm đến loài người đang lớn lên, cũng làm những điều tương tự của cuộc sống hằng ngày. Trong khi chúng ta thường tập trung vào con cháu của Sét như là các con trai của Đức Chúa Trời. thì dòng dõi của Ca-in cũng cho rất nhiều manh mối, cả rõ ràng và mờ ảo cho sự hiểu biết về hệ thống văn hóa mà Nô-ê sẽ được sinh ra trong đó. Ca-in đã không bị xử chết cho việc tước đi mạng sống của A-bên, thậm chí là trong sự trục xuất của ông Đức Chúa Trời đã đánh dấu trên ông để cảnh báo bất cứ ai trong tương lai mà có thể gây hại cho ông. Vì vậy Ca-in tiếp tục một cuộc đời được bảo vệ, nhưng là người phải lệ thuộc vào những đấu tranh để tồn tại hằng ngày. Ca-in ở tại vùng đất Nod, phía đông Ê-đen nơi ông đã sống và làm việc khó nhọc. Sự khó nhọc của ông thậm chí còn lan đến cả nghề trồng trọt của chính ông, nơi Đức Chúa Trời đã phán rằng việc làm của ông sẽ chẳng bao giờ sanh hoa lợi cho ông nữa. Dù vậy thời gian trôi qua, Ca-in thậm chí còn cưới một hậu duệ của Ê-va và sinh một con trai. Khi gia đình của họ tiếp tục sống, Ca-in xây một thành và đặt tên nó là Hê-nốc theo con đầu lòng của ông. Dòng giống của Ca-in sinh sôi trải qua nhiều thế hệ con cái, cháu, và chắt Các thế hệ của dòng dõi Ca-in đã chứng tỏ sự siêng năng. Trong thế hệ thứ 7 của Ca-in, ba người nam được lưu ý cho các năng lực làm việc và sự khéo léo của họ: Gia-banh là một tổ phụ của các dân sống du cư trong trại và nuôi các bầy súc vật; anh của ông, Giu-banh, được lưu ý với các tài năng sáng tạo của ông, được miêu tả như tổ phụ của tất cả những người đánh đàn và thổi sáo; người thứ 3 là Tu-banh-Ca-in siêng năng trong việc làm ra các dụng cụ bằng đồng và sắt và thậm chí huấn luyện những người thợ thủ công tài năng. Các gia đình này và các nền văn hóa theo sau có thể được khen ngợi cho những đóng góp của họ về kiến thức và kỹ năng cho loài người, Nếu nó không liên quan đến phẩm chất của họ. Sự phóng đãng, hung ác, nổi loạn, và bạo lực cũng bị truyền đi bởi dòng dõi này. Dường như Ca-in, tổ phụ của những dân này, đã không truyền một sự hiểu biết về tầm quan trọng của sự vâng phục và sự công bình. Dù các hậu quả của tội lỗi đã theo ông, nhưng một di sản của sự ghi nhớ vẫn không được truyền đạt. Thay vào đó thì nó là một ghi nhớ về sự báo thù và hung ác.

Hai dòng dõi chính này, của Sét và của Ca-in, hình thành một nhóm lớn của các dân đang phát triển. Ban đầu, mỗi dân bắt đầu với các hệ thống giá trị rất khác nhau. Con cháu của Ca-in sinh sôi và bày tỏ sự chống nghịch với Cha trên trời của họ. Sét và dòng dõi của ông biểu hiện các giá trị của sự tôn trọng và đức tin với Đấng Tạo Dựng của họ. Tuy nhiên thời gian trôi qua, các tấm lòng tinh sạch và tâm trung tín yếu dần. Những người chồng và vợ được chọn lựa mà không hề quan tâm đến các vấn đề về phẩm chất của họ, sự trung tín của họ, hay sự công bình của họ. "Các con trai công bình của Đức Chúa Trời" trong dòng dõi của Sét đã cưới con cháu thế gian của Ca-in. mà sự tập trung của họ chỉ vào việc nuôi lớn các con gái loài người thay vì các con gái của Đức Chúa Trời. Các cuộc hôn nhân này đã phá vỡ các lòng tin chắc của các dân trung tín. Sự thay đổi này từ các gia đình của sự trung tín thành các gia đình bị tiêu hủy bởi các tham vọng thế gian không phải là ngay lập tức, nhưng hơn thế nó mưng mủ trong loài người, lớn lên và lan rộng từ đời này sang đời khác. Đã từng có các gia đình trung tín trong quá khứ của loài người, nhưng với quá nhiều thế hệ sau này thỏa hiệp với các nguyên tắc của họ, chỉ có ít người nam và nữ còn trung tín, họ đã từ bỏ những ảnh hưởng tích cực của họ lên con cháu của mình, bạn bè và hàng xóm của họ. Giờ đây chính nền tảng của Đức Chúa Trời đã bị từ bỏ. Thậm chí các mối quan hệ hằng ngày và các tầm ảnh hưởng qua lại sa đọa thành những sự lừa dối, trộm cắp, hiểm độc, và hung bạo. Nó phá hủy loài người cho đến khi các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn.

Nhiều năm sau sự trung tín của Hê-nốc mà đã được ban thưởng, cháu cố của ông, Nô-ê được sinh ra trong thế giới chật vật và đạo đức rối ren này. Được chỉ dạy bởi cha mẹ của mình, Nô-ê đã lớn lên đối diện với tất cả những cám dỗ tượng tự mà mỗi người trẻ tuổi khác như ông cũng đang trải qua. Hợp lý để nghĩ rằng Nô-ê có mọi cơ hội để chọn một cuộc sống của sự bại hoại, hung bạo, ích kỷ, chuộc lợi cá nhân hay nổi loạn. 

Các cơ hội thậm chí còn nhiều hơn khi chúng ta xét đến thời điểm này trong lịch sử những người nam và nữ đã sống lâu hơn, thậm chí là hàng thế kỷ. Ông của Nô-ê, Mê-thu-sê-la, nắm giữ nét đặc biệt là người lớn tuổi nhất được ghi lại, đã từng sống 969 tuổi. 

Nhưng, mặc cho các cám dỗ khủng khiếp của một thế gian hư nát và tìm kiếm sự thỏa mãn, Nô-ê đã chọn con đường ngay thẳng trong việc vâng phục Đức Chúa Trời. Có phải Nô-ê vô tội trong mọi việc làm và chọn lựa của mình không? Tuyệt nhiên không. Như mọi người đã từng sống, Nô-ê cũng phạm tội và sa ngã khỏi ân điển của Đức Chúa Trời. Nhưng Nô-ê có thể đứng trước bất cứ người nào, quan xét nào, tòa án nào và đối diện với các nguyên cáo mà không chút xấu hổ và không bị quở trách sao? Đúng như vậy. Nô-ê là một người chính trực, người mà công bình và ngay thẳng trong các cách cư xử của mình với bất cứ người nào. Đặc điểm toàn diện của cuộc đời Nô-ê được ghi chép và miêu tả như một người "đồng đi cùng Đức Chúa Trời." 

Tuy nhiên, Đức Chúa Trời, khi nhìn xuống phần còn lại của thế gian, đã kinh hoảng với những gì mà Ngài nhìn thấy, kinh tởm với sự lộng hành của ý chí tự do mà Ngài đã ban cho các tạo dựng của Ngài một cách đầy yêu thương. Lịch sử được hà hơi ghi chép về sự tràn ngập của lòng hối hận mà Đấng Tạo Dựng trung tín cảm nhận cho chiều hướng mà vật tạo dựng của Ngài đã chọn trong cuộc đời của họ. Trong sự công bình của Ngài, Đức Chúa Trời phán một bản án của tội lỗi cho tất cả những người không vâng phục sự dạy dỗ của Ngài. 

Đức Chúa Trời bèn phán cùng Nô-ê rằng: Kỳ cuối cùng của mọi xác thịt đã đưa đến trước mặt ta, vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy điều hung hăng, vậy ta sẽ diệt trừ họ cùng đất Một câu nói tổng thể như vậy chỉ có thể được phán ra bởi Đấng mà chịu trách nhiệm cho tất cả. Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục nhìn loài người tội lỗi tàn phá lẫn nhau và làm giảm giá trị của con người sao? Câu trả lời của Đức Chúa Trời được phán ra, "Còn ta đây, ta sẽ dẫn nước lụt khắp mặt đất, đặng tuyệt diệt các xác thịt có sanh khí ở dưới trời, hết thảy các vật chi ở trên mặt đất đều sẽ chết hết." Sự hình phạt cho sự hung ác của loài người, sẽ đơn giản là nước, rơi từ trên trời, chảy từ mặt đất nhưng nó còn hơn nhiều so với một trận mưa rào đổ xuống. Thay vào đó nó sẽ cất thế gian bởi mưa bão theo nghĩa đen, che phủ nó hoàn toàn và xâm chiếm toàn bộ địa cầu. Đức Chúa Trời sẽ nhúng thế gian vào trong một trận lụt toàn cầu.

Nhưng với sự công bình của Ngài, sự thương xót của Đức Chúa Trời cũng sẽ được dang rộng cho Nô-ê và số ít linh hồn công bình, mà thái độ và niềm tin vào lòng tốt, sự nhân từ và sự công bình của họ đã "được ơn trước mặt Chúa." Đức Chúa Trời đã truyền cho Nô-ê các chi tiết của lời phán quyết mà Ngài sẽ làm trên đất, nhưng với nó Ngài cũng sẽ ban cho sự bảo hộ, Đức Chúa Trời phán rằng, "Ta sẽ lập giao ước với ngươi." Giao ước này, được ban cho bởi Đức Chúa Trời, là một giao ước của sự bảo hộ và cứu rỗi khỏi sự phán xét mà thế gian đáng nhận lãnh, nhưng nó cũng sẽ đặt một trách nhiệm rất lớn trên Nô-ê. Theo sự hiểu biết về dòng thời gian của cuộc đời Nô-ê, dường như giao ước này với Đức Chúa Trời có gần thời điểm Nô-ê và vợ của ông đang lập gia đình của mình, khoảng 500 tuổi. Những người nam và nữ của thời Nô-ê đã sống rất thọ, nhưng so với các thế hệ trước, thì Nô-ê chỉ ngang bằng hoặc lớn hơn những người khác một chút. Lớn hơn một chút khi các con của ông, Sem, Cham và Gia-phết được sanh ra. Có lẽ độ tuổi này cho Nô-ê sự khôn ngoan nhiều hơn để làm trọn những gì mà Đức Chúa Trời đòi hỏi từ ông. 

Được ban cho sự bảo hộ là được thương xót, nhưng làm thế nào mà Nô-ê có thể tránh khỏi một trận lụt tự nhiên, bao phủ tất cả, thảm họa như thế? Lời tuyên bố về trận lụt là cho tất cả các xác thịt dưới trời. Không có đỉnh núi để leo lên mà không bị ảnh hưởng, không có vùng đất xa xôi nào để ẩn náu. Như luôn luôn, các kế hoạch của Đức Chúa Trời không hề thiếu sót. Giao ước của Ngài với Nô-ê được hoàn thành, nói đến cả các việc làm và sự chuẩn bị của Ngài, cũng như những gì là nhiệm vụ được đòi hỏi của Nô-ê, việc xây một Con Tàu.

Xây một Con Tàu. Nó có vẻ giống như một nhiệm vụ đủ đơn giản cho Nô-ê. Nhưng một Con Tàu là gì? Theo nghĩa đen, nó được hiểu là một cái hòm, là một cái hộp, một thuyền rỗng, nhưng về một trận lụt thì sao? Một con thuyền để cứu gia đình của ông sao? Nô-ê chưa bao giờ nghe đến, nhìn thấy hay thậm chí được ở trong một thứ như thế, chứ nói gì đến việc xây dựng nó. Vì vấn đề đó, Nô-ê chưa từng nhìn thấy bất cứ trận nước lụt thảm họa nào, đặc biệt chứa đủ nước để có thể bao phủ các vùng đất của khắp thế gian. Nhưng dĩ nhiên, giao ước của Đức Chúa Trời được hoàn thành và Ngài chưa bao giờ bỏ dân sự của Ngài mà không có chỉ dẫn hay hướng dẫn thích hợp. Khi Ngài ra các mạng lệnh cho dân sự của Ngài, Ngài luôn giao tiếp với họ theo những cách mà họ có thể hiểu được chính xác, và cung cấp các phương sách nơi mà họ có thể vâng phục chính xác. Con thuyền rỗng này, cái hộp này, Con Tàu này phải giống cái gì? Nó phải lớn bao nhiêu? Bên trong của nó phải giống cái gì? Nô-ê không phải là một người xây tàu lành nghề, không có các dấu hiệu là ông được kính phục với các năng lực xây dựng hay thiết kế của ông. Nhưng, Đức Chúa Trời biết các điểm mạnh và yếu của Nô-ê, các phạm vị của sự hiểu biết và không biết của ông. Vì vậy tất cả các chi tiết cần thiết đã được cung cấp cho Nô-ê như một phần của giao ước mà Đức Chúa Trời đang thiết lập với ông. 

Về cấu trúc của nó, Con Tàu phải được làm bằng gỗ, và rất nhiều gỗ. Số lượng gỗ cần dùng sẽ không thể tin được, bởi vì các kế hoạch của Đức Chúa Trời cho kích thước và tỷ lệ toàn bộ của Con Tàu định rõ nó phải là dài 300 cubit, rộng 50 cubit và cao 30 cubit. Nhựa cây sẽ được dùng để phủ toàn bộ bề trong và ngoài của kiến trúc đồ sộ, tạo nên một hàng rào không thấm nước rất quan trọng. Sự chuẩn bị cho ánh sáng được cung cấp, và một cánh cửa duy nhất được ngăn ra ở bên cạnh của nó. Bên trong Tàu, Đức Chúa Trời lập các sự phân chia về kết cấu mà sẽ khiến cho nó được hữu ích và hiểu qua cho nhiệm vụ của nó. Ba boong chính sẽ chia chiều cao của nó và cung cấp một số lượng lớn của không gian sàn tàu có thể sử dụng được. Nô-ê phải thêm nhiều phòng hay các ngăn, tạo nên một biện pháp cho sự ngăn nắp và có tổ chức cho các hành khách và hàng hóa của Tàu. Đức Chúa Trời đã cho biết tỉ mỉ về một con thuyền khổng lồ. 

Nhưng cái gì sẽ lấp đầy tất cả không gian này? Một vài người mà sẽ lên Tàu sẽ không cần đến một phần nhỏ của các tiện nghi rộng lớn này. Đối với Đức Chúa Trời, trận lụt sẽ xảy ra như một việc làm chính của sự đổi mới, nhưng Ngài không phải đang làm việc tái tạo dựng. Các tiện nghi rộng lớn của Con Tàu cũng sẽ dành cho sự bảo tồn của đời sống thú vật, qua các đại diện của các loài thú vật mà sẽ bị ảnh hưởng bởi một trận lụt toàn cầu... các loài thú mà đã sống trên đất và có sanh khí trong chúng: các loài thú và súc vật, các loài bò sát, các loài chim. Món hàng cuối cùng là những dự phòng cần thiết cho sự tồn tại của cả con người và thú vật. Đức Chúa Trời đã chu cấp các chi tiết cần thiết cho Nô-ê, và được nói rằng, "Nô-ê làm các điều này y như lời Đức Chúa Trời đã phán dặn."

Trong suốt khoảng thời gian rất rất nhiều năm chuẩn bị, thì có điều tiêu tốn thời gian và công sức của Nô-ê hơn việc xây Tàu nhiều. Nô-ê là cha của ba người con trai, những người mà có nhân cách trung tín đến nỗi Đức Chúa Trời đã cho họ gia nhập vào số ít những người được chọn lên Tàu. Có phải Sem, Cham, Gia-phết trung tín, thành thật, và công bình bởi sự ảnh hưởng của thế gian không? Hoàn toàn không... họ là những người công bình và kiên định xứng với vai trò làm cha mẹ chăm chỉ và chín chắn của Nô-ê và vợ của ông. Một sự trái ngược hoàn toàn với con cái mà được nuôi bởi thế gian. Như cha mẹ, ông bà Nô-ê phải cung ứng cho nhu cầu hàng ngày, vật chất cho ba người con của họ: thức ăn, quần áo, chỗ ở,

chăm sóc cho chúng khi bị bệnh, và băng bó khi chúng bị thương. Họ cũng để ý và quan tâm nhiều đến sự phát triển và sức khỏe thuộc linh của các con của họ. Do bắt buộc sự rèn luyện này sẽ bao gồm tất cả các yếu tố cần thiết về sự vâng phục Đức Chúa Trời: dạy các con của họ về Đấng Tạo Dựng, về sự tôn kính thẩm quyền, về tầm quan trọng lớn của sự thờ phượng, gìn giữ một thái độ khiêm nhường, và nhiều nữa. Nhưng, chúng ta biết rằng sự dạy dỗ, bởi những người cha mẹ này, là có hiệu quả, và những người con tiếp nhận nó rất tốt. 

Trải qua nhiều năm, gia đình của Nô-ê đã trải qua tất cả các trải nghiệm cuộc sống quen thuộc mà những người hiện này quen thuộc với chúng. Có sự lão hóa của những người cha mẹ, ông bà và các gia đình khác. Chắc chắn có những bà con khác nhau, gia đình mở rộng, hay hàng xóm mà đã chết, và các sự kiện này sẽ có những thời điểm sinh ra sự đau đớn và buồn bã. Với mặt khác, thì có ...các tiệc cưới. Ba người con lớn lên qua giai đoạn thiếu niên thành thanh niên, những người chắc chắn sẽ tìm thấy những quý cô trẻ tuổi để làm vợ của họ. Rất ít điều được biết về những người nữ này, nhưng điều được biết đó là họ cũng được cho một chỗ trên Tàu. Họ không bị chịu bản án hình phạt như thế gian. Ngụ ý ở đây là các ảnh hưởng tin kính của Sem, Cham và Gia-phết, cha chồng, Nô-ê, và tiềm năng là nhân tố lớn nhất, mẹ chồng mới của họ, bà Nô-ê, là người với tầm ảnh hưởng như vậy, quá biến đổi đời sống đến nỗi những người nữ trẻ tuổi này đã bỏ lại cuộc đời cũ của họ, và có khả năng là cả sự tội lỗi của các gia đình thân cận họ để phó cuộc đời của họ trong sự vâng phục Đức Chúa Trời.

Nô-ê, được tả như một người rao giảng về sự công bình phải không? Ông đã nhìn thấy bông trái tích cực từ việc giữ vững sự tin kính của ông phải không? Trong ba cặp trẻ tuổi này, ông bà Nô-ê đã nhìn thấy một hy vọng tương lai. 

Giờ thì gia đình đang lớn lên. Nhiều tay làm việc đang khích lệ, nhưng những sự khó khăn không giảm bớt. Con Tàu vẫn phải được xây dựng và hoàn thành, những sự cung cấp được gom lại, và các cơ hội để tiếp tục rao giảng cho một thế gian hư mất không thể bị bỏ lỡ. Nô-ê tìm cách để cảnh báo thế hệ của ông về sự kiện sắp đến, không biết khi nào là thời điểm sẽ được trọn và sự chịu đựng lâu dài của Đức Chúa Trời sẽ kết thúc. Đức Chúa Trời đã phán rằng Ngài sẽ không đấu với con người mãi. Khi nào thì Con Tàu được chuẩn bị đầy đủ? Khi nào buổi trình diễn của các loài thú sẽ hoàn thành? Nô-ê không nắm quyền kiểm soát về thời gian.

Mỗi ngày trong vòng xấp xỉ 100 năm, Nô-ê và gia đình của ông thức dậy, cùng với sự cực nhọc, hay vất vả đau đớn từ một ngày làm việc vật vả. Họ có một chọn lựa trước mặt họ. Họ sẽ chọn vâng phục Đức Chúa Trời và tiếp tục với các nỗ lực của họ, hay họ sẽ quyết định quên đi toàn bộ nỗ lực một cách triệt để? Ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, 8 người nam và nữ này đã quyết định rằng đó là thiết yếu cho họ để làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Cùng lúc, gia đình đã có khích lệ thực sự, đáng kể cho những lao động của họ. Kiến trúc khổng lồ này, Con Tàu, đang tiến hành, ráp lại cùng với nhau. Không còn là một cái khung rỗng hay sự bày binh linh tinh của các cột và trụ. Bên ngoài của nó hầu như đã hoàn thành, chỉ thiếu một vài phần nữa để dán bằng nhựa. Mỗi boong đã thành hình với các phòng và ngăn, các hành lang hay lối đi, các hàng rào hay chuồng. Nó làm một nơi trống rỗng, to lớn và bao quát với các ngõ dài nối đuôi nhau, nhưng dự án lớn đang diễn ra cùng với nhau. Không phải là suốt mỗi ngày đều trải qua ở trong và trên Tàu. Có quá nhiều thứ để thu gom, để tìm kiếm và để chuẩn bị. Từ gỗ xẻ cần dùng và các dụng cụ khác nhau để làm nó, cho đến các móc và dây nối để hoàn thành kiến trúc, cho đến thực phẩm và các dự phòng dành cho đời sống hiện nay của họ cũng như các kho chứa cho sinh tồn tương lai của họ. Trong tiến trình và luồng công việc của họ, có thể có các shop thành thị hay các chợ nông thôn mà Nô-ê ghé để mua thực phẩm và vật liệu không? Các thành phố và công nghiệp hầu như chắc đã tồn tại trong thời Nô-ê, Vậy đã không có nhiều thợ thủ công, thương nhân, lái buôn, nhà buôn mà được lập thành các nghề này rồi sao? Có thể Nô-ê đã sử dụng các nguồn mà Đức Chúa Trời cung cấp để kiếm được những thứ này hay có khả năng thuê một vài sự giúp đở không? Nhưng, thậm chí nếu đây không phải là những gì mà Nô-ê hay Đức Chúa Trời nghĩ đến, thì Nô-ê, vợ ông, ba con trai và vợ của chúng sẽ có nhiều năm và thập kỷ, với hàng triệu giờ làm việc của con người để bám sát các nhiệm vụ mà được cần đến. 

Khi Nô-ê sắp xem xét tiến trình của họ, đánh giá các công trình đã hoàn thành, một khía cạnh chính của giao ước của Đức Chúa Trời mà Nô-ê đã không phải lo lắng đến là việc thu gom các loài thú. Những con đại diện, đực và cái, của mỗi loài thú được yêu cầu đều đến với Con Tàu. Chúng không đến bởi sự kêu gọi hay yêu cầu của Nô-ê, nhưng đến để Nô-ê giữ chúng còn sống. Có rất nhiều năm cho sự chuẩn bị và thời gian đầy đủ cho các loài thú hoàn thành đường đi của chúng, hay sự di trú đến một nơi, một kiến trúc mà có giao ước cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Các loài vật di chuyển tự nhiên từ vùng này đến vùng khác khi nguồn thức ăn hay chỗ ở thay đổi. 

Nhưng sẽ không có sự thay đổi thời tiết từ từ hay các dấu hiệu môi trường mà sẽ báo về sự đến của trận lụt lớn. Các cư dân của thế gian, từ chối thông điệp của Đức Chúa Trời và Nô-ê, sẽ đang ăn và uống, và say sưa cho đến ngày mà nước lụt cuốn họ đi. Như thế sự đến của các loài thú với Nô-ê là một phần của sự chăm lo chuẩn bị của Đức Chúa Trời. Mặc dù không có người chỉ dẫn tự nhiên hiện hữu, những đối với Nô-ê và gia đình của ông có thể có một manh mối liên quan đến sự đến sắp xảy ra của nước lụt... Con Tàu giờ đã hoàn thành. Cấu trúc của nó đã hoàn thiện, các kho thực phẩm cả cho họ và các loài thú đã ở trên Tàu. Nó sẽ là ngay lập tức vào lúc này, hay có nhiều ngày để chờ đợi? Dù sao đi nữa, giây phút được dự đoán cũng đã đến. Đức Chúa Trời phán cùng Nô-ê rằng: Ngươi và cả nhà ngươi hãy vào tàu, vì về đời này ta thấy ngươi là công bình ở trước mặt ta. Nô-ê và gia đình của ông đã trải qua nhiều giờ trong Tàu, làm việc và chuẩn bị, nhưng thời điểm này họ sẽ bước vào Tàu lâu dài bỏ lại những cái giường, nhà cửa và đất đai của họ lại đằng sau. Nó là một lối vào hết sức khác biệt. Không nhắc đến một khi lên Tàu thì đoàn diễu hành của các loài vật cũng theo sau. Mỗi loài động vật hầu như đa dạng bò, lăn, trườn, nhảy, bước đi, đi lạch bạch hay thậm chí là bay đến từng cặp và bảy cặp vào trong Tàu. Thời điểm của Đức Chúa Trời giờ đã rõ ràng. Không còn nhiều tháng và năm để hoàn thành quá trình lên Tàu... 7 ngày là tất cả những gì đủ dùng. Một tuần này phải là một cơn lốc của các hoạt động, một khi Con Tàu trống nhận vào sự sống và con người. Nó không còn trống không hay rỗng tuếch, vang vọng và cọt kẹt của việc lắp gỗ, thay vào đó nó sống động và nhộn nhịp, tràn ngập các âm thanh của chạy ầm ầm và tiếng quác quác khi tiếng ríu rít của hàng ngàn loài thú rừng chuyển khắp Con Tàu.

Nô-ê giờ là 600 tuổi, ông đã nhìn và trải nghiệm nhiều hơn phần lớn các cuộc đời sẽ thể tưởng tượng được, nhưng dường như sự kích động chỉ mới bắt đầu. Trong tháng thứ 2 vào ngày thứ 7, mưa bắt đầu rơi xuống, và vào ngày đó, chính Đức Chúa Trời đã đóng cánh cửa của Con Tàu. các hành khách của nó, người và thú vật giờ đây được an toàn và được che chở. Vì vậy Đức Chúa Trời đã cho mưa như trút nước, mở các đập trên trời, và khiến cho các nguồn lớn dưới vực sâu nổ ra từ bên dưới. Trong 40 ngày đêm, nước dâng lên không ngừng, mưa từ trên trời và dâng lên từ bên dưới. Trong 40 ngày này, nước dâng lên và nâng Con Tàu lên, và nó nổi cao trên đất. Khi nước đã dâng lên rất nhiều và che phủ khắp đất, thì Con Tàu di chuyển trên mặt nước. Tất cả các ngọn đồi cao dưới trời đều bị che phủ bởi nước bội phần, cho đến khi mỗi ngọn núi bị chìm sâu dưới mặt nước ít nhất 15 cubit. Cuối cùng 40 ngày kết thúc, mưa từ trên trời bị kiềm lại, các đập trên trời bị đóng lại, và các nguồn vực sâu bị lấp lại. Mỗi cm đất đều bị phủ sâu dưới nước. Mọi sự sống phụ thuộc vào đất liền, dù là sống trên nó hay bay trên nó, đều bị hủy diệt. Từ ngày mưa bắt đầu và nước lụt tràn khắp đất, thì đất liền bị chìm ngập tổng cộng 150 ngày. Khoảng thời gian này đủ cho mọi sự sống bị hủy diệt, ngoại trừ những gì có thể tồn tại trong đại dương toàn cầu bấy giờ và sự sống đang tồn tại bên trong Con Tàu của sự an toàn đang trôi nổi.

Khi 150 ngày đầu tiên này kết thúc, Đức Chúa Trời nhớ đến Nô-ê, gia đình của ông, và tất cả các loài thú mà ở cùng ông trong Tàu. Và Đức Chúa Trời khiến một trận gió thổi ngang qua đất, và nước ngừng trút xuống, tiếp tục rút xuống khỏi mặt đất. Khi nước hạ xuống, khả năng để cho đấy Tàu không chạm đến các đỉnh núi cũng giảm dần, và nó đã đậu trên các ngọn núi của A-ra-rát. những ngày di chuyển và trôi nổi của Con Tàu với sóng và gió đã kết thúc. Nó giờ đã cố định cho khoảng thời gian còn lại của nơi cư ngụ của họ, cho đến khi Nô-ê và gia đình của ông nghe từ Đức Chúa Trời rằng trái đất đã bình ổn lại. Cho đến lúc đó, Nô-ê chỉ có thể nhìn xung quanh họ để thấy bất cứ tiến triển nào. Đó là khoảng 2 tháng rưỡi bị kẹt trên núi A-ra-rát, cho đến khi lần đầu tiên nhìn thấy các ngọn núi xung quanh, cuối cùng được phơi bày bởi nước đã rút xuống. Nhưng những quang cảnh đầu tiên này chỉ là những hòn đảo nhỏ với nước bao phủ xung quanh. Vì vậy Nô-ê đợi 40 ngày trước khi ông bắt một con quạ, mở cửa sổ và thả nó đi. Con chim bay đi như một trinh sát cho Nô-ê. Tuy nhiên, con chim đặc biệt này không bao giờ quay lại, nhưng bay trên đất cho đến khi nước rút hết. Sau 7 ngày, Nô-ê bắt một con chim nhỏ hơn, một con bồ câu cái, và thả nó ra khỏi cửa sổ để quan sát đất liền. Bồ câu bay đi, nhưng không tìm thấy chỗ để đậu nên nó quay về. Đưa tay mình ra, Nô-ê đã đón con chim trở về Tàu. Hai chuyến quan sát này không mang lại bất cứ thông tin mới nào cho gia đình. Sau 7 ngày, Nô-ê thả chim bồ câu lại. Họ sẽ biết được điều gì đây? Thế gian bên ngoài Tàu và vượt qua các ngọn núi này trông như thế nào? Không lâu trước khi người bạn di cư của họ quay trở lại Tàu với một dấu hiệu khích lệ... một nhành ô-li-ve. Ở đâu đó bên ngoài Con Tàu tiến trình tự nhiên của sự sống và sự phát triển đã được đánh thức bởi ánh sáng, không khí trong lành và hơi ấm. Nô-ê đợi thêm một tuần nữa, rồi thả con bồ câu nhỏ bé dũng cảm ra lại. Nhưng chuyến này trở thành chuyến phiêu lưu cuối cùng của nó khỏi Tàu, bởi vì dường như lần này nó đã tìm thấy nơi nghỉ ngơi tốt lành để bắt đầu lại. Sau vài tuần đợi chờ nữa, Nô-ê giở mui Tàu và nhìn khắp dãy núi A-ra-rát. Đất mà Nô-ê nhìn thấy đã khô ráo. Giờ thì thời điểm phải đến sớm thôi, mưa đã tạnh lâu rồi, Con Tàu đã ngừng lại, cây cỏ đã trở lại trên đất, nước đã rút xuống và đất đang khô ráo.

Vào ngày thứ 27 của tháng thứ 2, chỉ hơn một năm sau khi nước lụt đến, thông điệp được mong chờ của Đức Chúa Trời đã đến, Đức Chúa Trời phán cùng Nô-ê rằng: Hãy ra khỏi Tàu, ngươi, vợ, các con và các dâu ngươi. Nó là một mạng lệnh đơn giản, nhưng nó có điều không rõ ràng như mạng lệnh trước đó để vào Tàu. Thế gian sẽ như thế nào sau nước lụt? Nó chắc chắn sẽ khác, nhưng theo cách nào? Nô-ê và gia đình của ông cuối cùng cũng mở Tàu, để cho tất cả các loài thú rời đi vào trong thế giới mới của chúng. Vào lúc rời khỏi Tàu, phản ứng đầu tiên của Nô-ê và gia đình của ông là phải ngừng lại và dâng sự cảm tạ và ngợi khen của họ lên Đức Chúa Trời. Từ các loài thú tinh sạch thêm vào mà đã lên Tàu, Nô-ê đã dâng của lễ thiêu cho Đức Chúa Trời.

Có rất nhiều việc mà bốn cặp này sẽ phải làm, để thiết lập lại cuộc sống của họ trên đất, nhưng trong những giây phút đầu tiên này thì việc bày tỏ lòng biết ơn của họ đến sự quan tâm và ơn thương xót cứu rỗi của Đức Chúa Trời đáng để họ tập trung vào. Chúa ngửi thấy mùi thơm êm dịu và đã phán với gia đình loài người trước Ngài rằng, "Còn phần ta đây, ta lập giao ước cùng các ngươi, cùng dòng dõi các ngươi, và cùng mọi vật sống ở với ngươi... các loài xác thịt chẳng bao giờ lại bị nước lụt hủy diệt, và cũng chẳng có nước lụt để hủy hoạt đất nữa. Đây là dấu chỉ về sự giao ước mà ta lập cùng các ngươi, cùng hết thảy vật sống ở với các ngươi, hết đời mãi mãi. Ta đặt móng của ta trên tầng mây, dùng làm dấu chỉ sự giao ước của ta với đất."

Như trong vườn Ê-đen, Đức Chúa Trời truyền lệnh cho con người, "Hãy sanh sản thêm nhiều, làm cho đầy dẫy trên mặt đất." Ba cặp trẻ tuổi sẽ trải ra trên đất và có nhiều con cái và rất nhiều hậu duệ. Sem, Cham, và Gia-phết, mỗi người sẽ là tổ phụ của các nước lớn và nhiều dân tộc đa dạng.

Qua A-đam và Nô-ê, tất cả mọi dân sự và mọi nước trên đất sẽ hình thành , cho đến thời điểm một Đấng Cứu Thế thực sự sẽ giải quyết nan đề tội lỗi của con người mãi mãi.

 


In bài này  

Bài Viết Liên Quan

Lẽ Thật Về Ngày Tận Thế

Lẽ Thật Về Sự Khiêu Dâm

Có Đức Chúa Trời Không?

Có Đức Chúa Trời Không?

Đức Tin Của Nô-ê

Đức Tin Của Nô-ê

Lẽ Thật Về Lễ Tiệc Thánh